Một số thủ thuật đơn giản với Windows 7 (2)

Một số thủ thuật đơn giản với Windows 7 (1)

http://voz.vn/wp-content/uploads/2009/06/windows_7_graphic.jpg

Thủ thuật với Windows Explorer

Windows Explorer là thành phần rất quan trong của giao diện Windows, nó làm việc khá ổn định. Tuy nhiên chúng ta có thể cải tiến nó để thực thi tốt hơn.
1. Sử dụng các hộp chọn để lựa chọn nhiều file
Để lựa chọn nhiều file cho một ứng dụng như copy, di chuyển hay xóa bỏ trong Windows Explorer, thông thường chúng ta sẽ sử dụng bàn phím hay chuột khi giữ Ctrl rồi click vào những file muốn lựa chọn. Tuy nhiên có một phương pháp mà chúng ta có thể áp dụng để lựa chọn nhiều file trong Windows 7 chỉ cần sử dụng chuột, đó là sử dụng các hộp chọn. Thực hiện các thao tác sau:
1. Trong Windows Explorer, click Organize rồi lựa chọn Folder and search options.
2. Vào tab View.
3. Trong Advanced Settings, di chuyển xuống phía dưới rồi đánh dấu hộp chọn kế tiếp mục Use check boxes to select items. Sau đó nhấn OK.

Từ giờ, mỗi khi di chuyển con trỏ chuột qua một file trong Windows Explorer thì một hộp chọn sẽ xuất hiện bên cạnh những file này, và chúng ta chỉ cần click vào hộp chọn để lựa chọn file. Nếu huy chọn thì hộp chọn này sẽ biến mất khi di chuyển con trỏ sang vị trí khác.

2. Mở một Command Prompt tại mọi folder

Những người dùng yêu thích Command Prompt chắc hẳn sẽ hứng thủ với thủ thuật này. Với thủ thuật này, trong Windows Explorer, chúng ta có thể mở một Command Prompt tới mọi folder. Thủ thuật này giống như tính năng Open Command Windows Here của Windows XP PowerToy.

Để mở Command Prompt cho folder, giữ phím Shift rồi phải chuột lên folder cần mở, chọn Open command windows here từ menu ngữ cảnh.
Lưu ý: Thủ thuật này không làm việc trong folder Documents.
3. Chặn hiển thị tìm kiếm trong Explorer

Khi tìm kiếm trong PC từ Windows Explorer, chúng ta có thể thấy những tìm kiếm mới được thực hiện. Nếu chia sẻ một máy tính và không muốn những người khác thấy những gì đã được tìm kiếm, chúng ta có thể tắt bỏ tính năng hiển thị những tìm kiếm mới thực hiện:
1. Trong hộp Search của menu Start, nhập gpedit.msc rồi nhấn Enter để khởi chạy Group Policy Editor.
2. Vào User Configuration | Administrative Templates | Windows Components | Windows Explorer.

3. Click đúp vào mục Turn off display of recent search entries in the Windows Explorer search box rồi lựa chọn Enabled từ cửa sổ xuất hiện. Sau đó nhấn OK.

4. Thay đổi thư mục mặc định của  Windows Explorer

Mặc định Windows Explorer sẽ mở thư mục Libraries mỗi khi khởi chạy. Sẽ không có vấn đề gì nếu chúng ta sử dụng cấu trúc file mặc định của Microsoft, mà chỉ định Libraries là vùng chứa tổng hợp cho các thư mục. Tuy nhiên, chúng ta có thể cấu hình cho Windows Explorer tự động mở Computer hay bất kì thư mục nào khác mỗi khi nó khởi chạy nếu muốn. Thực hiện các thao tác sau:
1. Phải chuột lên biểu tượng Windows Explorer trên thang Taskbar, sau đó chọn Properties để mở hộp thoại Windows Explorer Properties.

2. Chúng ta sẽ phải hiệu chỉnh trường Target trên tab Shortcut của hộp thoại này để thay đổi địa chỉ mặc định của Windows Explorer.
Nếu muốn Windows Explorer mở tới một thư mục cụ thể, chúng ta chỉ cần nhập vào tên của thư mục đó. Giả sử tên của thư mục cần mở là folder, chúng ta sẽ nhập chuỗi sau:

%windir%\explorer.exe c:\Folder
Nếu muốn WE mở những địa chỉ mặc định của Windows, như Computer, thì chúng ta sẽ phải nhập cú pháp đặc biệt trong trường Target. Dưới đây là 4 địa chỉ thông dụng kèm cú pháp sử dụng:

Computer: %windir%\explorer.exe ::{20D04FE0-3AEA-1069-A2D8-08002B30309D}
My Documents: %windir%\explorer.exe ::{450D8FBA-AD25-11D0-98A8-0800361B1103}
Network: %windir%\explorer.exe ::{208D2C60-3AEA-1069-A2D7-08002B30309D}
Libraries: %SystemRoot%\explorer.exe

3. Sau khi hoàn thành thay đổi trường Field, nhấn OK. Sau đó, mỗi khi chúng ta mở Windows Explorer nó sẽ mở thư mục mà chúng ta đã lựa chọn.

5. Hiển thị mọi ổ đĩa trong Windows Explorer

Tùy thuộc vào những cài đặt hệ thống, khi chúng ta truy cập vào Computer trong Windows Explorer có thể chúng ta sẽ không thấy bất cứ ổ đĩa nào được hiển thị nếu chúng chưa có dữ liệu. Nếu điều này gây một chút phiền toái thì chúng ta có thể thực hiện một phương đơn giản để thấy chúng dù không có dữ liệu nào được lưu trữ trong đó:
1. Chạy Windows Explorer rồi nhấn phím Alt để hiển thị menu của cửa sổ.
2. Vào Tools | Folder Options, chọn tab View.
3. Trong Advanced settings, hủy chọn hộp chọn Hide empty drives in the Computer folder rồi nhấn OK. Sau đó chúng ta sẽ thấy mọi ổ đĩa sẽ luôn được hiển thị trong WE.

6.Tạo Internet Search Connector riêng

Windows 7 có một tính năng mới rất hữu dụng có tên Search Connector cho phép chúng ta tìm kiếm trên Web ngay bên trong Windows Explorer. Chúng ta chỉ cần nhập từ khóa tìm kiếm rồi lựa chọn Search Connector cho trang muốn tìm kiếm, sau đó Windows Explorer sẽ tìm kiếm trang đó mà không phải mở IE. Khi click vào kết quả hiển thị thì ứng dụng trình duyệt mặc định sẽ bật mở.
Thông thường chúng ta cần có một Search Connector từ trang Web muốn tìm kiếm, tuy nhiên số lượng Connector tích hợp rất hạn chế. Các trang Web luôn cần tuân thủ chuẩn OpenSearch để Connector có thể vận hành.
Tuy nhiên, có một số công cụ mà chúng ta có thể sử dụng để tạo Search Connector riêng cho bất kì trang Web nào bằng cách sử dụng Windows Live Search như một đối tượng trung gian. Thực hiện các thao tác sau:
1. Copy đoạn mã dưới đây rồi dán vào Notepad. Với mỗi Connector chúng ta cần thay đổi thông tin được in đậm cho phù hợp.

<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<OpenSearchDescription xmlns="http://a9.com/-/spec/opensearch/1.1/" xmlns:ms-ose="http://schemas.microsoft.com/opensearchext/2009/">
<ShortName>[Tên phiên tìm kiếm]</ShortName>
<Description>[Từ khóa tìm kiếm]</Description>
<Url type="application/rss+xml" template="http://api.bing.com/rss.aspx?source=web&query={searchTerms} site:[Têntrang]&web.count=50"/>
<Url type="text/html" template="http://www.bing.com/search?q={searchTerms}+site:[Têntrang]"/>
</OpenSearchDescription>
Lưu ý:
  • Trong [Tên trang] không được nhập http// hay www, ví dụ, nếu muốn tìm kiếm trên trang Quản trị mạng ta chỉ cần nhập quantrimang.com.vn hoặc quantrimang.com.
  • Tham số count= là số kết quả sẽ được hiển thị.

2. Lưu file này lại với phần mở rộng là .osdx, rồi lựa chọn UTF-8 từ hộp Encoding.
3. Trong cửa sổ Windows Explorer, phải chuột lên file .osdx này rồi chọn Create Search Connector.
4. Sau đó chúng ta đã có thể sử dụng Search Connector này. Để sử dụng nó, trong Windows Explorer, vào [Tên tài khoản] | Search| [Tên của Connector].

Một số thủ thuật với thanh Taskbar

Một trong những cải tiến giao diện đáng kể nhất trong Windows 7 là thanh Taskbar mới khá bắt mắt, nó hoạt động giống với Dock của Mac OS X hơn là thanh Taskbar truyền thống. Dưới đây là một số thủ thuật đơn giản khi làm việc với thanh Taskbar.
1. Tăng tốc hiển thị ảnh nhỏ trên thanh Taskbar
Một trong những điểm hấp dẫn nhất của thang Taskbar đó là khi chúng ta di chuyển con trỏ qua các cửa sổ được thu nhỏ trên đó chúng ta sẽ thấy những ảnh nhỏ của các cửa sổ này. Tuy nhiên khi chúng ta di chuyển con trỏ lên, các ảnh nhỏ này không lập tức hiển thị, tất nhiên, chúng ta có thể thay đổi khoảng thời gian trì hoãn này.

Quan trọng: Luôn tạo một Restore Point (điểm khôi phục) trước khi làm việc với Windows Registry.
1. Khởi chạy Registry Editor bằng cách nhập regedit vào hộp Search rồi nhấn Enter.
2. Truy cập vào vùng HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Mouse.
3. Click đúp lên key MouseHoverTime. Tại đây chúng ta sẽ thấy giá trị mặc định là 400 (mili giây). Để rút ngắn thời gian trì hoãn chúng ta cần giảm giá trị này. Sau đó nhấn OK và đóng Registry Editor. Sau đó chúng ta sẽ phải khởi động lại hệ thống để áp dụng các thay đổi.

2. Kiểm soát vùng thông báo trên thanh Taskbar

Vùng thông báo, nằm ở phía bên phải của thánh Taskbar, hiển thị những nhắc nhở và thông báo, đồng thời hiển thị biểu tượng của những ứng dụng và dịch vụ thường vận hành ở nền phụ như dịch vụ Wifi của Windows 7. Tuy nhiên để xác định thời điểm, cách thức và biểu tượng nào xuất hiện tại đó còn là một bí mật với nhiều người dùng.
1. Phải chuột lên thanh Taskbar, trong vùng Notification Area click Customize.
2. Với mỗi ứng dụng, chúng ta có thể lựa chọn một tùy chọn luôn hiển thị, không bao giờ hiển thị, hay chỉ xuất hiện biểu tượng khi có thông báo. Sau khi cài đặt xong nhấn OK.

Chúng ta cũng có thể tùy chỉnh các biểu tượng và dịch vụ hệ thống xuất hiện trong đó, như đồng hồ, âm lượng, mạng, điện năng và Action Center. Tại phía cuối của hộp thoại này click vào liên kết Turn systems icons on or off, sau đó lựa chọn lựa chọn tắt hoặc bật biểu tượng và thông báo. Sau đó nhấn OK.

3. Xem ảnh nhỏ trên thanh Taskbar không cần chuột

Nếu thường xuyên sử dụng bàn phím thay vì chuột, chúng ta có thể di chuyển con trỏ từ cửa sổ thu nhỏ này sang cửa sổ thu nhỏ khác trên thanh Taskbar mà không cần sử dụng chuột trong khi vẫn thấy các ảnh nhỏ bằng tổ hợp Windows+T. Để chuyển sang các cửa sổ kế tiếp, ta chi cần giữ phím Windows rồi nháy phím T.
4. Bật mở cửa sổ thu nhỏ bằng bàn phím
Trong Windows XP chúng ta thường sử dụng tổ hợp phím Alt+Tab để mở các cửa sổ thu nhỏ. Trong Windows 7, ngoài tổ hợp phím này chúng ta còn có thể sử dụng một tổ hợp phím khác nhanh hơn nhiều so với Alt+Tab đó là phím Windows kết hợp với phím số. Phím số ở đây sẽ tương ứng với vị trí của các cửa sổ nằm trên thanh Taskbar, được đánh số tăng dần từ trái qua phải và bắt đầu từ 1. Ví dụ, để gọi lại cửa sổ của ứng dụng khởi chạy đầu tiên ta chỉ cần nhấn tổ hợp phím Windows+1.
5. Chạy nhiều bản sao ứng dụng
Có một số ứng dụng cho phép chúng ta khởi chạy nhiều bản sao, như IE và Firefox, tuy nhiên cũng có một số ứng dụng không cho phép làm điều đó. Thông thường khi ứng dụng đã được chạy, nếu chúng ta click vào biểu tượng của ứng dụng đó thì sẽ bật mở cửa sổ của ứng dụng đó hiện đang thu nhỏ dưới thanh Taskbar lên màn hình, ví dụ như Yahoo.
Tuy nhiên có một thủ thuật nhỏ mà chúng ta có thể áp dụng trong trường hợp này. Trước tiên bạn hãy click đơn vào tượng của ứng dụng trên màn hình, sau đó giữ phím Shift đồng thời click đúp lên biểu tượng đó, khi đó một bản sao của ứng dụng sẽ khởi chạy.

Xian (Theo PCWorld)